Truong Mam Non | Truong Mau Giao | Truong Mam Non Quoc Te | Trường Mẫu Giáo Quốc Tế Saigon Academy

"Khai mở tiềm năng trí tuệ của trẻ" Saigon Academy
"Không nên dạy cho trẻ em những gì chúng phải suy nghĩ, mà dạy cho chúng cách suy nghĩ ." Margaret Mead
"Tiên học lễ, hậu học văn" Tục ngữ Việt Nam
"Người không học như ngọc không mài " Tục ngữ Việt Nam
"Đời sống có hạn mà sự học thì vô hạn ." Trang Tử
"Tri thức là sức mạnh ." F.Bacon
"Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời." Ngạn ngữ Mỹ
"Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người ." Ngạn ngữ Nga
"Học thầy, học bạn, vô vạn phong lưu ." Tục ngữ dân tộc Thái–Việt Nam
"Trẻ sơ sinh đến ngày thứ ba mới bắt đầu dạy dỗ là đã chậm mất hai ngày ." Ivan Petrovich Palov
"Nhu cầu hoạt động của trẻ nhỏ dường như còn mãnh liệt hơn cả nhu cầu ăn uống ." Montessori
"Trí tuệ không sinh ra trong quá trình học tập mà sinh ra trong sự theo đuổi tri thức suốt đời không biết mệt mỏi ." Einstein
"Đọc sách làm nên nhân cách của con người ." F.Bacon
"Việc học như con thuyền đi trên dòng nước ngược, không tiến ắt sẽ lùi"
"Một thầy giáo tồi chỉ biết truyền thụ chân lý, một thầy giáo tốt biết dạy học trò phát hiện ra chân lý ." Dodd Andes
"Hãy làm cho trường học phù hợp với các em chứ không phải bắt các em nhi đồng phải thích nghi với trường học ." Neil Andes

Giáo dục sớm của Giai đoạn thai nghén lần thứ hai có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với việc trưởng thành của một nhân tài?


Giáo dục sớm chính là giáo dục nhằm thúc đẩy chức năng não bộ phát triển.

      Con người được coi là “linh hồn của vạn vật”, bởi vì con người có bộ não phát triển, bộ não của con người được coi là vật chất cao cấp nhất, tinh xảo nhất, kỳ lạ nhất trên thế giới, những hiện tượng tâm lý mà nó phản ánh như trí tuệ, tình cảm, ý chí, tính cách ..v..v. ..có thể phản ánh được cả vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô.
 
      Trong tất cả các cơ quan, bộ não của trẻ phát triển nhanh nhất, sớm nhất. Thai nhi hai tháng tuổi, bộ não đã có chiều dài bằng một nửa chiều cao của cơ thể, đầu của trẻ mới sinh rộng bằng lồng ngực. Trẻ sơ sinh 9 tháng tuổi, trọng lượng của bộ não đã não đã tăng gấp đôi so với lúc mới sinh, khi 3 tuổi tăng gấp 4 lần, và cơ bản phát triển toàn diện khi trẻ 5, 6 tuổi, gần bằng mức của người trưởng thành. Trong khi đó các cơ quan khác trên cơ thể người để đạt được tốc độ phát triển này phải cần quãng thời gian sinh trưởng là 15 năm.
 
       Vậy có phải bộ não con người phát triển toàn diện chính là tượng trưng cho chức năng não đã hoàn thiện? Đương nhiên là không!
Để bộ não con người thực sự phát triển hoàn thiện, nâng cao chức năng não bộ, ngoài nguồn dinh dưỡng có trong thực phẩm, còn cần phải có nguồn dinh dưỡng tinh thần dồi dào- tiếp nhận một lượng lớn thông tin tốt và thường xuyên động não suy nghĩ, giống như cơ bắp trong giai đoạn phát triển phải được vận động thường xuyên, bộ não con người cũng phải được phát triển và hoàn thiện trong quá trình trưởng thành.

       Qua các thí nghiệm, các nhà khoa học đã lý giải tâm lý học giải phẫu như sau: Phân những con chuột bạch vừa được sinh ra trong cùng một hang có trọng lượng như nhau thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất sống trong một phòng rộng có ánh sáng chan hòa, tiếng nhạc du dương, bày các loại đồ chơi phong phú, các chú chuột bạch có thể tự do chơi đùa thỏa thích. Một nhóm khác, mỗi chú chuột bạch được nhốt vào một chiếc chuồng, không có ánh sáng, không có âm thanh, không có bạn bè và đồ chơi. Cho hai nhóm chuột này ăn cùng một loại thức ăn, họ nuôi những chú chuột này trong 19 ngày rồi tiến hành kiểm tra, trí tuệ của hai nhóm chuột này hoàn toàn khác nhau: Những chú chuột bạch được sống trong môi trường đầy ánh sáng, âm nhạc, trò chơi và được giao lưu với những chú chuột khác tỏ ra hết sức linh hoạt, bị lạc trong mê cung cũng rất dễ tìm đường ra, con người cũng khó bắt được chúng. Khi tìm thức ăn chúng sẵn sàng dũng cảm đương đầu với mọi khó khăn. Còn những chú chuột bạch chỉ được ăn no mà không được tự do chạy nhảy vui chơi, không được kích thích bởi lượng thông tin bên ngoài thì lờ đờ chậm chạp, không tìm được đường ra khi lạc vào mê cung, khi bị người bắt cũng không biết tìm cách chạy thoát.

      Sau khi tiến hành giải phẫu, người ta nhận thấy não của chúng có một số điểm khác nhau. Một điều khiến người ta kinh ngạc: những chú chuột bạch được kích thích bởi nguồn thông tin phong phú, phân lượng não nặng, thể tích lớn, các tế bào thần kinh phát triển, các sợi nhánh và sợi trục thần kinh được sinh ra trên các tế bào thần kinh phát triển dày đặc, các bộ phận chính của tế bào thần kinh như hạch thần kinh, anbuminoit đều phát triển; còn những chú chuột bạch chỉ được ăn không được tự do chạy nhảy vui chơi thì hoàn toàn ngược lại, bộ não của chúng trong trạng thái bị teo lại, trọng lượng nhẹ, thể tích nhỏ, sợi dây thần kinh và sợi anbuminoit trong tế bào thần kinh cũng không phát triển.

       Từ đó cho thấy, cho dù là chuột bạch, để thúc đẩy phát huy chức năng bị hạn chế của bộ não, phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng tinh thần trong quá trình sinh trưởng của não bộ, đối với con người lại càng phải như vậy. Các bác sỹ cũng đã từng giải phẫu xác của một người chết có trí tuệ kém phát triển, bộ não của người này cũng ở trạng thái bị teo lại. Nhưng với những trẻ có bộ não bị tổn thương nếu sớm được hưởng thụ một nền giáo dục tốt, được cung cấp nguồn dinh dưỡng tinh thần lớn trong thời kỳ não bộ phát triển, kích thích trẻ sử dụng não bộ một cách vui vẻ thoải mái, như vậy có thể bù đắp được những thiếu sót hạn chế sinh lý trong não, phục hồi chức năng não bộ, thậm chí còn giúp cho não bộ phát triển tới mức thông minh mẫn tiệp.( xem một số ví dụ tiêu biểu trong Phương án 0 tuổi)

      Tế bào não người có tới 100 tỉ tế bào thần kinh, trong đó tế bào ở lớp da đại não chiếm tới 14 tỉ. Khi trẻ sơ sinh ra đời, mặc dù số lượng tế bào não đã tương đối đầy đủ, nhưng tế bào não nhỏ, các sợi nhánh và sợi trục thần kinh vẫn chưa phát triển nhiều, chưa có thông tin truyền qua giữa các tế bào não, mỗi tế bào não đứng riêng rẽ độc lập. Chỉ sau khi được tiến hành giáo dục sớm một cách phong phú đa dạng, chịu sự kích thích thông tin từ thế giới bên ngoài, tế bào não mới có thể phát triển một cách bình thường, bắt đầu phát triển các sợi thần kinh nhánh, dần dần chúng liên thông với nhau hình thành một con đường truyền tải thông tin, vì vậy hoạt động tâm lý cũng ngày càng trở nên phong phú đa dạng hơn.

       Giáo sư Hiddink và giáo sư Lengal người Thụy Điển đã quan sát qua kính hiển vi, cho rằng việc học tập trong giai đoạn sớm có thể khiến cho tế bào não trở nên phức tạp,làm tăng các hạch thần kinh và anbuminoit của các phần ký ức trong tế bào. Họ còn quan sát những con chuột được cho luyện đi trên dây thép ngay sau khi sinh với những con chuột khác, và nhận thấy các tế bào não của chúng khác nhau hoàn toàn về chất. Họ phẫu thuật chuyển một bộ phận tế bào não của những con chuột đã được luyện đi trên dây thép sang não của những con chuột bình thường, phát hiện ra rằng những con chuột bình thường cũng bắt đầu đi trên dây thép thoăn thoắt. Vì vậy họ chỉ ra rằng: Nếu như được tiến hành tăng cường luyện tập nhằm kích thích hoạt động của tế bào não ngay từ khi còn nhỏ, các hạch thần kinh và anbuminoit của phần ký ức sẽ tăng lên, như vậy sẽ có thể đào tạo ra những người thông minh với chất lượng tế bào não cao.

       Thí nghiệm của tiến sĩ Marsh SeiGiai đoạn thai nghén lần thứ hai Nhật Bản nghiên cứu đại não lại một lần nữa minh chứng về lý luận biến đổi theo xu hướng tốt trong quá trình năng lực trí tuệ phát triển. khi trẻ mới chỉ biết bú sữa, đại tiểu tiện, khóc và vung tay, khi tiến hành giải phẫu nhiễm sắc não, quan sát qua kính hiển vi, lúc này chỉ nhìn thấy những hành vi như vẫy tay, bú sữa, đại tiểu tiện, đợi đến khi các tế bào thần kinh trung ương trong đại não phát triển hoàn thiện, nhiễm sắc hiện ra rất rõ ràng dưới kính hiển vi, còn các bộ phận khác của não rất mờ nhạt. Vài tháng sau năng lực trí tuệ của trẻ phát triển càng nhanh, tiếp tục quan sát tế bào não qua kính hiển vi đều có thể nhìn thấy tất cả các bộ phận khác có liên quan đều hiện lên rất rõ nét.

       Tất cả những lý luận trên đều chứng minh rằng, không nên đợi đến lúc não phát triển mới sử dụng nó, mà phải thúc đẩy não phát triển ngay trong quá trình sử dụng bộ não. Nguyên tắc phương pháp biện chứng “ phải có sự vận động mới có sự phát triển”, phải được sử dụng mới nhanh nhạy, cũng thích hợp với quá trình phát triển khỏe mạnh của não người.

       Từ đó, tôi chợt nhớ ra trong các buổi liên hoan thường có người như thế này: khi mọi người kêu gọi anh ta hát một bài, hay nhảy một điệu, anh ta thường lắc đầu nguây nguẩy, thậm chí vừa nói vừa chuồn mất: “Không, không, tớ làm gì có nốt nhạc nào trong đầu!”

       Trước đây tôi nghĩ đây là một câu nói vui, nhưng bây giờ lại có một cách tư duy khác: rất nhiều người trong quá trình phát triển của não bộ hoàn toàn không được âm nhạc cảm thụ bất cứ một giai điệu bài hát nào, dẫn đến trong não bộ hoàn toàn thiếu loại vật chất này, đến khi não bộ đã hoàn toàn phát triển và định hình, sẽ rất khó để sản sinh ra bộ phận cảm nhận âm nhạc tinh tế nữa, do đó “không có một nốt nhạc trong đầu” hay thiếu mất tế bào âm nhạc trong não. Kết cấu, thành phần và sự khác biệt giữa các tế bào nảy sinh do cuộc sống tinh thần khác nhau của não bộ, rốt cuộc ,nhiều cái gì, hay thiếu cái gì, hôm nay vẫn là một câu hỏi lớn chưa có lời giải, có lẽ phải chờ nền khoa học não bộ, tâm lý học, sinh lý học tương lai tìm lời giải đáp.

       Trong cuộc sống, không chỉ có rất nhiều người không có “tế bào âm nhạc”, mà còn có những người thiếu “tế bào ngoại ngữ”, “ tế bào toán học”, “ tế bào thể dục thể thao”, “ tế bào sáng tạo”, “tế bào bặt thiệp quảng giao”, “tế bào biết chữ biết đọc”, cũng không ít người hình thành những tế bào tính cách xấu. Tất cả những hiện tượng này đều có thể tìm được căn nguyên từ quá trình giáo dục sớm. Vì vậy, để não bộ phát triển khỏe mạnh, hoàn thiện, không được bỏ lỡ cơ hội bồi dưỡng toàn diện và rèn luyện sở trường hay niềm đam mê trong thời kỳ não bộ phát triển. Nếu không, bộ não sẽ trở thành tàn tật, sự tàn tật vô hình này còn đáng sợ hơn sự tàn tật tay chân mà chúng ta vẫn nhìn thấy được. Tóm lại, để não bộ phát triển khỏe mạnh, chúng ta nhất định không được bỏ lỡ việc giáo dục bồi dưỡng trong giai đoạn não bộ phát triển nhanh chóng.

       Giáo dục sớm chính là giáo dục nhằm khai thác triệt để tiềm năng trí tuệ của con người.
Sự hoàn thiện sinh lý, phát triển trí lực và tính cách của não bộ được diễn ra đồng thời, hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau. Vì vậy, đồng thời với việc tiến hành giáo dục sớm nhằm thúc đẩy bộ não con người phát triển, nhất định phải tích cực khai thác toàn diện tiềm năng của cơ thể, trí tuệ và tính cách.

       Nói tới trí tuệ của con người, đã thấy nó có tiềm năng vô cùng to lớn. Engels trong cuốn “Phép biện chứng tự nhiên” có một đoạn phân tích rất quan trọng, đại ý như sau:
Bộ não con người- từ một sinh mệnh tế bào đơn phát triển thành phát triển thành dạng vật chất cao cấp nhất, phức tạp nhất trên thế giới, giới tự nhiên phải trải qua hàng nghìn vạn năm tiến hóa, vậy mà trong cơ thể của người mẹ, tế bào trứng thụ tinh ( cũng là tế bào đơn) phát triển thành bộ não con người lại chỉ cần có 9 tháng 10 ngày;
      
      Từ tổ tiên động vật phát triển thành con người có trí tuệ cao nhất, giới tự nhiên cũng phái trải qua một thời kỳ dài hàng nghìn hàng vạn năm, vậy mà từ một đứa trẻ sơ sinh có trình độ tâm lý động vật đến một người trưởng thành có năng lực trí tuệ và năng lực tính cách lại chỉ cần mười mấy năm.
Sự phát triển năng lực trí tuệ của trẻ sơ sinh, tại sao chỉ trong thời gian ngắn lại có thể đi hết con đường dài đằng đẵng của giới tự nhiên phát triển từ một tế bào đơn thành con người hiện đại? Bởi vì tế bào trứng và tinh trùng của con người và những đứa trẻ sơ sinh đều tiềm tàng một kho trí tuệ vô hình được di truyền từ hàng nghìn vạn năm biến hóa cho tới ngày nay.

       Tiềm năng này khiến người ta phải vô cùng kinh ngạc, các nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng, hiện nay năng lực trí tuệ của người bình thường mới chỉ khai thác được từ 3% đến 10%, đa số các tế bào não vẫn ngủ quên, chưa phát huy được công năng của chúng. Không thể không nói đây chính là sự lãng phí và đáng tiếc lớn nhất của nhân loại.

       20 mươi năm trước, ông Masaru Ibuka, chuyên gia giáo dục sớm nổi tiếng của Nhật Bản và nhà tâm lý học Dahuhui đã dẫn đoàn đại biểu sang Trung Quốc khảo sát tình hình giáo dục sớm, Bộ giáo dục thông báo cho tôi sẽ hội ngộ họ ở Thượng Hải, tiến hành giao lưu học thuật. Ông Masaru Ibuka đã kể cho tôi nghe một câu chuyện, câu chuyện này đã mang đến cho tôi nhiều gợi mở.

       Ở hội chợ khoa học kỹ thuật Sukaba Nhật Bản, có triển lãm một cây cà chua gây chấn động. Giống của cây cà chua này được lấy ngẫu nhiên từ giống của những cây cà chua mọc nhan nhản khắp nơi, không có gì đặc biệt, nhưng các nhà khoa học đã nuôi dưỡng hạt giống này trong một môi trường đặc biệt thuận lợi. Những cây cà chua bình thường được trồng trong đất, họ lại áp dụng phương pháp thủy canh để trồng cây cà chua này trong nước. Những cây cà chua khác được bón bằng các loại phân bón thông thường, họ lại gieo hạt xuống phân bón trong nước theo một tỉ lệ đặc biệt phối hợp các loại phân bón. Những cây cà chua khác được sinh trưởng trong môi trường tự nhiên bình thường, nhưng người ta đã nghiên cứu để trồng những cây cà chua này ở một nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng thích hợp. Cây cà chua rất hợp với ánh sáng đỏ, vì vậy người ta chiếu ánh sáng đỏ vào nó trong một khoảng thời gian thích hợp. Sau khi chăm bón cây cà chua trong một môi trường thích hợp nhất, đợi đến khi cây cà chua lớn lên, bạn thử đoán xem điều gì đã xảy ra?

       Cành lá của cây cà chua sinh trưởng trong môi trường tự nhiên thưa thớt, còn cây cà chua được chăm bón đặc biệt thì lớn rất nhanh, cao to, cành lá sum suê, diện tích che phủ mặt đất đạt 12 m2, các cây cà chua khác mỗi cây chỉ có 7,8 quả hoặc 10 quả, còn cây cà chua này cho ra 13.000 quả, gấp 100000 lần sản lượng của các cây cà chua bình thường.

       Ông Masaru Ibuka nói : tiềm năng phát triển của một cây cà chua sau khi được khai thác triệt để khiến người ta phải kinh ngạc, huống hồ là những trẻ sơ sinh bằng xướng bằng thịt của chúng ta? Nếu như một đứa trẻ ngay từ nhỏ đã được nuôi dưỡng và giáo dục trong một môi trường tốt, cho dù chúng ta chỉ khai thác được 0,5 % tiềm năng trí tuệ của con người, thì những đứa trẻ đó cũng đã có thể trở thành thiên tài!

       Hoạt động tâm lý chính là hoạt động được bắt đầu từ khi con người được tiếp xúc với thế giới khách quan đa dạng về màu sắc cũng như phong phú về sắc thái tình cảm.Trẻ sơ sinh chỉ sau khi cảm nhận thấy luồng ánh sáng mới tìm xem đâu là khởi nguồn của luồng ánh sáng đó, vì vậy trẻ bắt đầu quan sát thế giới xung quanh, sau khi nghe thấy âm thanh mới quay mặt về hướng phát ra âm thanh, sau khi làn da trên cơ thể trẻ tiếp xúc với các kích thích từ bên ngoài như nóng, lạnh, xoa bóp, ôm ấp, xúc giác và các giác quan vận động mới phát triển nhanh chóng ( trong thai kỳ, do cơ thể người mẹ thường xuyên vận động nên cơ quan xúc giác của trẻ đã rất nhạy cảm). Sau khi có cảm giác cơ thể khó chịu ( ví dụ như đói) hoặc được người khác yêu thương vỗ về, trẻ mới dần dần hình thành các cung bậc cảm xúc. Vì vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, kích thích thông tin sớm đối với trẻ trong khai thác tiềm năng trí tuệ có một vai trò hết sức quan trọng.

      Ông SuGiai đoạn thai nghén lần thứ haiuki- chuyên gia giáo dục sớm Nhật Bản để trẻ sơ sinh nghe nhạc và đạt được thành quả từ trước đến nay chưa từng có. Ông để cho mẹ của đứa trẻ chọn một giai điệu du dương có độ dài khoảng năm phút, hàng ngày khi nào trẻ khóc sẽ bật cho trẻ nghe, kết quả đứa trẻ năm tháng hoàn toàn có thể thuộc được bài hát đó. Ông thu âm đoạn nhạc mà đứa trẻ thường xuyên nghe với đoạn nhạc mà mà từ trước đến nay trẻ chưa nghe bao giờ vào một băng nhạc, sau đó để trẻ nghe băng nhạc này. Điều kinh ngạc là, cậu bé ngẩn người ra khi nghe khúc nhạc lạ tai, nhưng lại mỉm cười và đung đưa nhún nhảy theo nhạc khi nghe lại khúc nhạc quen. Trẻ năm tháng tuổi đã có một năng lực trí nhớ,khả năng thưởng thức và phân biệt như vậy, quả là khiến cho chúng ta phải kinh ngạc.

       Khai thác tiềm năng của con người chủ yếu dựa vào giáo dục sớm, sẽ là quá muộn nếu như tiến hành giáo dục khi đại não đã phát triển định hình. Nhưng chúng ta lại để tuổi thơ qua một cách vô ích, không biết đã lãng phí không biết bao nhiêu năm tháng quý báu của các em nhỏ, để mỗi người khi lớn lên chỉ phát triển hết sức bình thường.

       Mặc dù vậy, rốt cuộc mỗi người chúng ta được hấp thụ một nền giáo dục tự phát nguyên thủy. Sau khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, bố mẹ chúng ta đều ôm chúng ta vào lòng, bón cho chúng ta, thủ thỉ nói chuyện với chúng ta, trọc cho chúng ta cười, dạy chúng ta những bước đi đầu tiên. Mỗi ngày chúng ta đều được sống trong tình thương của mọi người, từng giờ từng phút chúng ta được nghe ngôn ngữ của loài người, hàng ngày được tận mắt nhìn thấy hành vi của con người, tất cả sự giáo dục vô thức nguyên thủy này đã xã hội hóa mỗi người trong chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta trở thành những con người trong xã hội. Nhưng nếu chúng ta bị tước đi quyền được giáo dục sớm một cách hết sức tự nhiên này, thì đó chính là bi kịch, ngày hôm nay chúng ta không thể ngồi đây để nghiền ngẫm cuốn sách này, thảo luận hay suy nghĩ về một vấn đề nào đó…

       Trên thế giới này liệu có ai bị tước đi hoàn toàn cái quyền được giáo dục sớm không? Có! Những đứa trẻ được động vật nuôi lớn hoàn toàn mất đi sự giáo dục sớm của loài người, đây là những đứa trẻ “hoang dã”. Trên thế giới đã phát hiện ra những đứa trẻ được sói, gấu, báo hay vượn nuôi lớn, nghe nói đã phát hiện được hơn 30 trường hợp.


      Các con thú hoang dã tại sao lại nuôi lớn những đứa trẻ này? Theo phân tích, có những con thú sau khi sinh con, con chúng không may bị chết do bệnh tật hoặc bị những con thú khác ăn thịt. Con thú mẹ nào cũng có tình mẫu tử, nó phải ôm ấp con của mình, cho con của mình ăn để thỏa mãn bản năng đó. Lúc này nó sẽ đi khắp nơi tìm kiếm, nếu không tìm thấy con, có thể nó sẽ đến các ngôi làng trên núi, nếu như phát hiện ra đứa trẻ nhà ai không có người trông nom, nó sẽ tha về hang của mình để thay cho đứa con đã mất của nó. Nếu như vậy, những đứa trẻ này từ đó sẽ mất đi ánh sáng ấm áp của văn minh nhân loại, toàn bộ tiềm năng trí tuệ và hành vi con người của trẻ sẽ hoàn toàn bị chôn vùi.

      Theo ghi chép của một số tài liệu, đứa trẻ hoang dã nổi tiếng nhất là cô bé người sói Ấn Độ, năm 1941 một đoạn băng về cô bé người sói do hai giáo sư của đại học Beast Lord và Denver Mỹ công bố đã gây chấn động toàn thế giới, và được các nhà tâm lý học nghiên cứu mấy chục năm.

       Đó là vào năm 1920, ở một ngôi làng nhỏ phía Tây Nam Calcutta Ấn Độ, người ta phát hiện ra một bầy sói, trong bầy sói có hai người, đầu tóc xõa sượi, người đầy lông lá chạy và sinh sống theo đàn sói. Mọi người trong làng đều rất sợ hãi, ai cũng nghĩ đó là yêu quái. Lúc này có một giáo sỹ người Mỹ tên là Singh đi thám hiểm, truy tìm giấu tích của đoàn sói. Quả nhiên một ngày, ông phát hiện ra trong đàn sói có hai con sói “hình người”, đó là hai bé gái. Cả hai từ nhỏ không may bị sói mẹ tha về hang. Sau khi cứu hai đứa trẻ về, người ta cũng không biết đó là con nhà ai, người ta đoán bé gái nhỏ khoảng 3 tuổi, liền đặt tên là Amara, bé gái lớn khoảng 8 tuổi đặt tên là Kamala. Mặc dù đã cứu được hai bé gái, nhưng đáng tiếc vì cả hai đứa trẻ đều không được hấp thụ giáo dục sớm của con người, vì vậy, một số hiện tượng tâm lý của con người hoàn toàn biến mất ở hai đứa trẻ này:
Thứ nhất, không chịu mặc quần áo, nếu bắt mặc vào chúng cũng không biết cởi ra, chúng dùng móng xé rách quần áo, không có cảm giác xấu hổ như con người.

Thứ hai, không ăn đồ chín, không ăn các loại ngũ cốc, chuyên ăn thịt sống, trứng sống, thịt thối cũng ăn. Chúng thích uống sữa bò, nhưng lại không uống bằng cốc, phải có người đổ sữa ra đất và chúng sẽ liếm sữa trên đất một cách ngon lành.

Thứ ba, không ngủ trên giường, cũng không đắp chăn, thích nằm bò ra đất ngủ, không sợ lạnh; ban ngày ngủ, ban đêm hoạt động.

Thứ tư, không biết đứng, càng không biết đi thẳng người.

Năm, không biết nói tiếng người, không biết phát âm những âm thanh của loài người, không những không biết nói mà còn không biết cười( cười là hiện tượng tâm lý đặc trưng của con người, tất cả các loài động vật đều không biết cười, ai trong số các bạn đã nhìn thấy những chú chó biết cười hay những cô gà mái biết cười?)

Sáu, khứu giác của chúng rất nhạy cảm, không toát mồ hôi, thích bóng tối, thích gần chó và dê núi.

       Tóm lại, nhân tính của chúng hoàn toàn bị chôn vùi, vậy thì còn nói gì đến tiềm năng trí tuệ? Đó là do chúng hoàn toàn mất đi ảnh hưởng của môi trường sống của con người trong thời kỳ não bộ phát triển, không được hấp thu nền giáo dục sớm của con người. Ngược lại, chúng thích ứng với cuộc sống của loài sói, tiềm năng con người trong chúng tự nhiên mất đi, dường như không thể bù đắp lại được.

       Chúng ta nghiên cứu lịch sử trưởng thành của những vĩ nhân nổi tiếng trong và ngoài nước từ cổ chí kim, chỉ cần nhìn vào những ghi chép lịch sử về quá trình phát triển trong giai đoạn sớm của họ, có thể chứng minh được tiềm năng trí tuệ cao siêu của họ, những nhân cách tốt đẹp đều được hình thành do ảnh hưởng của gia đình, các mối quan hệ ruột thịt thân thiết và đều có liên quan đến giáo dục sớm. Đáng tiếc là, tác giả của những cuốn sử ký ấy không hiểu giáo dục sớm hoặc coi nhẹ tầm quan trọng của giáo dục sớm, ngòi bút của họ hầu như bỏ qua những câu chuyện thú vị về thời thơ ấu của những vĩ nhân. Ai biết được những thiếu sót này chính là lỗ hổng lớn trong lịch sử trưởng thành của mọi nhân tài trên thế giới.

Giáo dục sớm chính là sự giáo dục ở thời kỳ hoàng kim nhằm khai thác được toàn bộ tiềm năng của con người. Đó là thời kỳ giáo dục tốt nhất phát triển toàn diện tiềm năng. Thuật ngữ “thời kỳ giáo dục tốt nhất” 30 năm trước được truyền vào Trung Quốc, người đưa ra thuật ngữ này là nhà động vật học từng nhận được giải Nobel người Úc Lorenz.

       Trong khu thí nghiệm của Lorenz nuôi rất nhiều động vật, trong đó có thiên nga. Một lần, trong khi quan sát thiên nga nhỏ ra đời, ông phát hiện ra một hiện tượng khá thú vị, những chú thiên nga sau khi chui từ vỏ trứng ra nhìn thấy động vật gì đầu tiên liền coi đó là mẹ, nếu nhìn thấy thiên nga mẹ, chúng sẽ thích thiên nga mẹ, nhưng nếu là gà mẹ giúp chúng chui ra vỏ trứng, chúng liền theo gà mẹ. Và giả sử lúc mời chào đời, chỉ cần Lorenz ở bên cạnh quan sát chúng, chúng cũng coi ông là mẹ, Lorenz đi đến đâu, sau lưng ông có một đàn thiên nga theo sau, Lorenz đi bơi, đàn thiên nga cũng nhảy xuống nước, hơn nữa còn dụi đầu vào tóc và râu của ông. Nên mọi người đặt cho Lorenz một biệt hiệu, là “mẹ thiên nga râu dài”.

       Hiện tượng thú vị này đã đem lại cho Lorenz một “vùng đất khám khá mới”. Ông lại làm thí nghiệm, khi thiên nga ra đời, không cho bất cứ đông vật nào ở bên, ngay cả bản thân ông cũng nấp vào một chỗ quan sát, như vậy thiên nga mới ra đời phải tự lo cho mình. Sau đó mấy ngày, ông cho một động vật khác lại gần tiếp xúc với chúng, khi đó, thiên nga không cần mẹ nữa, cho dù là thiên nga mẹ lại gần. Thí nghiệm được tiến hành nhiều lần, đều có chung một kết quả, nên Lorenz gọi hiện tượng động vật trong thời gian mới ra đời đang nhận biết mẹ là “thời kỳ nhận biết mẹ”, “thời kỳ nhạy cảm”, nếu bỏ qua thời kỳ này sẽ không nhận biết được nữa.
Sau này, người ta đã tiến hàng hàng loạt các xét nghiệm để chứng minh có thời kỳ nhận biết, ví dụ như gà con nhận biết mẹ trong 6 ngày, sau khi sinh trong 5 ngày là biết phân biệt tiếng của mẹ mình và các mẹ gà khác, chó con biết đào hố trong 7 ngày đầu sau khi ra đời. Mọi người gọi hiện tượng này là “thời kỳ phát triển” hoặc “thời kỳ tốt nhất”. Phát hiện này của Lorenz gây chấn động thế giới, và ông đã giành được giải Nobel bởi phát hiện này.

       Vậy con người có thời kỳ tốt nhất trong khi phát triển không? Câu trả lời là có, đa trí tuệ đều có cần có thời kỳ tốt nhất để phát triển. Ví dụ một đứa trẻ khi sinh ra không ở cùng mẹ, sau 1 tháng sẽ không thân mật với mẹ nữa, trí tuệ của trẻ nhỏ phát triển cũng có hiện tượng thời kỳ tốt nhất. Ví dụ: thời kỳ tốt nhất để phát triển nói là trước 2 tuổi, thời kỳ tốt nhất để nhận biết chữ là trước 3 tuổi, thời kỳ tốt nhất để học đếm là trước 4 tuổi. Trẻ sơ sinh sau khi ra đời nếu hàng ngày được nghe nhạc giao hưởng và các bản nhạc nổi tiếng thế giới, sau này sẽ nghe chính xác 88 âm của đàn piano, nều 3, 4 tuổi bắt đầu nghe nhạc, thì có thể nghe chính xác vài âm, nếu khi thiếu niên mới bắt đầu tiếp xúc với âm nhạc, thì sẽ trở thành một người “mù âm nhạc”, và suốt đời sẽ không hiểu biết rõ về âm nhạc. Có người từng nói rằng nếu thực sự muốn trở thành thiên tài violon, khi 3 tuổi phải bắt đầu tập luyện một cách hứng thú, muốn trở thành bậc thầy về đàn piano thì trước 5 tuổi phải bắt đầu học đàn…Mỗi người có một cách nói khác nhau, có thể không phải đều chuẩn xác, nhưng có một điểm cả giới tâm lý học cùng công nhận, đó là thời kỳ từ 0-6 tuổi là thời kỳ tốt nhất để phát triển trí tuệ, tính cách của một đứa trẻ, bỏ lỡ thời kỳ này coi như uổng công vô ích.

       Trên thế giới, lý luận thời kỳ tốt nhất được phát triển thành “học thuyết giảm dần” của phát triển trí lực. Theo học thuyết này, trẻ càng nhỏ tuổi, khả năng phát triển trí lực càng tốt. và cùng với số tuổi tăng lên, khả năng phát triển trí lực càng giảm. Nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Bloom sau hàng loạt nghiên cứu đã nói: nếu một người trưởng thành đến 17 tuổi trí lực đạt 100%, thì lúc 4 tuổi đạt 50%, 8 tuổi đạt 80%, trong 9 năm từ 8 tuổi đến 17 tuổi phát triển 20%. Theo thuyết phát triển trí lực của nhà giáo dục học Shichida người Nhật Bản: sự tăng tiến này giống như hình tam giác cân, lúc 0 tuổi phát triển nhanh nhất, chính là đáy của tam giác, lúc 8 tuổi chính là đỉnh tam giác, trí lực không phát triển rõ rệt nữa, và sau đó, con người chỉ có thể phát triển kỹ năng và tri thức.

       Trong thực tế, nếu chúng ta chú ý quan sát sự trưởng thành của một con người, sẽ thấy trí năng phát triển quả thực giảm nhanh chóng. Rất nhiều diễn viên kịch, diễn viên xiếc nổi tiếng được gọi là “ngũ linh đồng”, “lục linh đồng”, trên thực tế ngay từ khi 5, 6 tuổi họ đã lên sân khấu biểu diễn, còn xem và học biểu diễn thì phải bắt đầu từ lúc nhỏ hơn; 1, 2 tuổi đã ra vào sân luyện tập với bố mẹ, và dần dần cảm nhận ca kịch. Học xiếc cũng như vậy, giả dụ tuổi đã trưởng thành như chúng ta mới học đi trên dây, bay người trên không trung thì quả thực quá nguy hiểm.

       Một người muốn học nhạc, mỹ thuật, ngoại ngữ, bơi, trượt băng, toán học, đọc chữ….đều nên có tiếp xúc từ sớm, tiếp xúc muộn sẽ khó phát triển. Tôi đã thống kê tất cả các cao thủ cờ vây của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản hầu hết đều tham gia thi đấu lúc 5 tuổi. 5 tuổi đã tham gia thi đấu, như vậy họ phải tiếp xúc với cờ vây, xem người lớn đánh cờ vây từ sớm hơn, với độ tuổi như chúng ta hiện nay mới bắt đầu học cờ vây, việc trở thành một cao thủ đẳng cao e rằng phải chờ đến kiếp sau. Chúng ta cũng có thể khẳng định được rằng: trong các chủ nhân của tấm huy chương vàng, huy chương bạc Olympic, ai cũng đều là hạt giống thể thao được gieo mầm từ nhỏ, thậm chí còn được bồi dưỡng đặc biệt trong thời kỳ tốt nhất. Phần trên chúng tôi đã nhắc tới những đứa trẻ người sói ở Ấn Độ, do đã bỏ qua sự giáo dục phát triển trí năng, tính cách trong thời kỳ tốt nhất, nên khi quay lại cuộc sống con người, chúng rất khó có thể hòa nhập.
      Amala khá hơn một chút, vì cô bé mới 3 tuổi, vẫn đang trong thời kỳ não phát triển, thời kỳ tốt nhất, nên sau khi quay lại với con người 2 tháng, đã bắt đầu phát âm, học nói, nhưng thật đáng tiếc, bé đã mất 7 tháng sau đó.
       Kamala sống lâu hơn một chút, tuy nhiên, đúng như ông Shichida đã nói, ở tuổi thứ 8, sự phát triển trí lực đã “khô cạn”. Sự tiến bộ của cô bé rất chậm, hiệu quả giáo dục hầu như không có.

       Dưới đây là nhật ký ghi lại quá trình tập luyện của Kamala:
1 năm: bé mới có thể đứng dậy, sau đó bước đi vài bước là lại bò; Sau 2 năm, bé mới biết cười, vào buổi sáng hàng ngày, khi phu nhân Single ôm bé, bé mới nở một nụ cười;
Sau 3 năm mới biết ngủ vào ban đêm, và hoạt động vào ban ngày; Sau 4 năm giáo dục tập luyện và sống cùng con người, mới biết nói 6 từ, khi đó cô bé đã 12 tuổi;
Sau khi tập luyện 5 năm bé mới biết cầm thìa ăn canh;
6 năm biết nói 35 câu ngắn, đến khi mất vào năm 17 tuổi, cũng chỉ biết nói 45 câu thường dùng hàng ngày.
Ngay cả sự phát triển khả năng của động vật cũng chủ yếu dựa vào thời kỳ ban đầu. Nghe nói rằng muốn chim hót hay, khi còn là chim non, nên nhốt với một con chim trưởng thành, để nó hàng ngày nghe tiếng hót của con chim trưởng thành, như vậy, dần dần mới có thể luyện được tiếng hót thánh thót, nếu bỏ qua thời kỳ này, cho dù là chim họa mi cũng không thể có tiếng hót hay. Những người chuyên nuôi mèo nói rằng: khi mèo còn nhỏ, hàng ngày cho ăn thịt chuột, lớn lên sẽ chuyên đi bắt chuột.

       Giáo dục sớm còn là giáo dục hình thành tính cách tốt. Tính cách rất quan trọng đối với người muốn trở thành nhân tài, hơn nữa nó còn liên quan đến “vận mệnh” của một con người, vấn đề này phía sau chúng ta sẽ tiếp tục bàn đến. Một người có tính cách tốt sẽ có được rất nhiều lợi ích; ngược lại, nếu hình thành nên tính cách không tốt hoặc tâm lý bất bình thường, sẽ có hại vô cùng, thâm chí sẽ dẫn đến vận mệnh bi thương.

       Trên thực tế, chúng ta đã từng gặp những người có tính cách quá hướng nội, sống rất tách biệt. Khi tiếp xúc với họ, quả thực không biết nên nói gì, đem lại cảm giác gò bó bất an, rất gượng gạo. Đó là kết quả của việc ngay từ bé họ đã dần hình thành tính cách hướng nội, cô độc thậm chí ích kỷ.

       Còn có những người tính cách thô lỗ, vợ chồng vừa cãi nhau là đập phá đồ đạc, sau đó phải đi mua sắm lại, cãi nhau – đập phá – đi mua, vòng tuần hoàn đó lặp lại liên tục, gia đình thường xuyên bất hòa thậm chí có nguy cơ tan vỡ, khiến cho bản thân họ cũng cảm thấy chán nản, đó là do ngay từ nhỏ họ đã hình thành tính cách mình là cái rốn của vũ trụ, không kiềm chế được bản thân. Lại có người cả ngày không ngồi yên được một chỗ, không thể tập trung đọc sách hay suy nghĩ, động việc là ngại khổ ngại khó, không có tính kiên trì…

       Giáo sư Phùng Đức Toàn cho rằng: Mỗi lần nhìn thấy những cảnh như vậy, không khỏi thấy thương cảm, và từ đáy lòng luôn muốn phát triển giáo dục sớm, việc đào tạo nên tính cách tốt cho một con người chính là linh hồn của người đó. Tính cách không tốt, trong cuộc sống sẽ gặp phải nhiều chuyện khó nói.

       Phần nền móng cho tính cách của một con người được hình thành trong cuộc sống từ rất sớm, theo nhà giáo dục học Krupskaya: những kinh nghiệm từ nhỏ sẽ có ấn tượng rất sâu trong cuộc đời mỗi con người; cũng theo Ibuka Masaru, những thông tin thu được từ nhỏ sẽ giống như máu thịt hình thành trong não, về lâu dài, sẽ phát huy tác dụng. Chính vì vậy, nếu một người được hình thành tính cách tốt ngay từ nhỏ, gia đình và bản thân người đó nhất định sẽ rất vui vẻ hạnh phúc; nếu nhiều người được hình thành tính cách tốt ngay từ nhỏ, xã hội sẽ rất an hòa, và nhân tài sẽ ngày càng nhiều. Còn những người ngay khi sinh ra đã được hình thành tính cách xấu, thói quen xấu, muốn cải tạo thật không dễ dàng, hơn nữa tuổi càng cao, thói quen, tính cách và tư duy càng không thể suy chuyển.

       Bởi vậy mới có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Theo thống kê điều tra tính kiên trì tập thể dục của con người cho thấy: những đứa trẻ trước 5 tuổi thích ngủ nướng, lười nhác, cả đời sẽ không thể kiên trì tập thể dục buổi sáng. Việc này khiến chúng ta nghĩ tới câu nói cổ xưa của Trung Quốc: “3 tuổi đang lớn, 7 tuổi trưởng thành”, câu nói này là đúc kết kinh nghiệm hàng nghìn năm nay, phản ánh đúng chân lý thực tế.

       Sự phân tích ý nghĩa quan trọng của giáo dục sớm trong bốn phương diện trên, cho ta thấy giáo dục sớm có vị trí nhất định trong quá trình đào tào người tài. Giống như Makarenko đã từng dự đoán: “Nền móng của giáo dục được xây dựng vững chắc từ trước 5 tuổi, nó chiếm 90% cả quá trình giáo dục”.

      Có người đã từng chất vấn giáo sư Phùng Đức Toàn: “những đạo lý ông giảng quả thực rất đầy đủ, nhưng có một điểm tôi không hiểu, lẽ nào con người muốn thành tài nhất định phải được tiếp nhận giáo dục sớm?, nếu như vậy, sao có thể giải thích cho việc người có tài lại thành đạt muộn? ”
Quả đúng vậy, có những người trên 40, 50 tuổi mới có thành tựu , giáo sư Phùng Đức Toàn đáp: “Đây quả thực là một cách hiểu rất hay, trên thực tế, những người tài thành đạt muộn đều là những người phát triển theo kiểu “yên ngựa”. Họ đều được giáo dục sớm tương đối tốt với các mức độ và hình thức khác nhau (chú ý: giáo dục sớm tương đối tốt không nhất định là giáo dục tự phát, mà là giáo dục sớm ngày từ ban đầu). Nhưng do hoàn cảnh gia đình, do điều kiện hạn chế, tố chất của họ ở vào trạng thái “ngủ quên”, không theo được các giáo dục tiếp đó, nên đã bỏ lỡ thời gian. Sau đó, gặp điều kiện tốt hơn, hoặc gặp cơ hội, những hạt mầm tố chất “ngủ quên” của họ đã đâm chồi, nảy lộc, và có thành quả ”.

       Ví dụ, Tề Bạch Thạch được hưởng giáo dục sớm trong gia đình, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đã trở thành thợ mộc, nhưng trí tuệ thông minh, niềm say mê hội họa và vốn văn hóa được hun đúc từ thuở nhỏ vẫn không bị mai một, đến trung niên mới có cơ hội phát triển, và dưới sự chỉ dạy của Từ Bi Hồng, ông đã trở thành một bậc kỳ tài của giới mỹ thuật. Xét cho cùng, cho dù là thành tài ở tuổi niên thiếu hay trung niên, khoa học giáo dục sớm vần là nền móng của “thiên tài”. Giáo dục sớm chính là giáo dục nhằm thúc đẩy chức năng não bộ phát triển.

(Chuyên gia trả lời: GS. Phùng Đức Toàn)